I. Hợp đồng thuê nhà văn phòng thuộc sở hữu của các nhân

1. Thời điểm Bộ luật dân sự 2005 vẫn còn hiệu lực

Theo như "Điều 492. Hình thức hợp đồng thuê nhà ở có quy định rõ:

- "Hợp đồng thuê nhà ở cần phải được lập thành văn bản, nếu thời hạn khách thuê trên 6 tháng trở lên thì cần có chứng thực hoặc công chứng và phải được đăng ký, trừ trường hơp pháp luật có quy định khác".

Vậy có thể hiểu quy định trên nghĩa như sau: Hợp đồng cho thuê nhà ở - văn phòng làm việc hay thuê với bất kỳ mục đích nào khác với thời hạn từ 6 tháng trở lên mà bên cho thuê là cá nhân đều phải có công chứng - chứng thực và phải đăng ký.

2. Thời điểm Bộ luật dân sự 2005 vẫn còn hiệu lực - Luật nhà ở 2014 có hiệu lực kể từ ngày 01.07.2015

Theo khoản 2 Điều 122 Luật nhà ở có quy định: "Đối với trường hợp tổ chức tặng cho nhà tình thương, nhà tình nghĩa, cho thuê mua nhà ở thuộc sở hữu nhà nước, mua bán, cho thuê mua nhà ở xã hội nhà ở phục vụ tái đinh cư, góp vốn bằng nhà ở mà có một bên là tổ chức; cho mượn, cho thuê, cho ở nhà, ủy quyền quản lý nhà ở thì không cần phải chứng thực hợp đồng, công chứng, trừ hợp hợp hai bên (thuê và cho thuê) có nhu cầu.

Đối với những giao dịch quy định trong khoản này thì thời điểm hợp đồng có hiệu lực sẽ do các bên thỏa thuận; trường hợp các bên không đi đến được thỏa thuận nhất định thì thời điểm có hiệu lực của hợp đồng sẽ là thời điểm ký hợp đồng.

Song song đó, tại khoản 2 và khoản 3 của điều 83 - Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật số 17/2008/QH12 của Quốc hội có quy định áp dụng văn bản quy phạm pháp luật:

3. Trong các trường hợp các văn bản quy phạm pháp luật có quy định khác nhau về cùng một vấn đề thì áp dụng văn bản có hiệu lực mang tính pháp lý cao hơn.

4. Trong các trường hợp các văn bản quy phạm pháp luật do cùng một cơ quan ban hành mà có quy định khác nhau về cùng một vấn đề thì áp dụng quy đinh của văn bản được ban hành sau.

Vậy, kể từ ngày 01.07.2015 thì Hợp đồng thuê nhà ở, thuê nhà ở với mục đích khác đáp ứng quy định tại khoản 2 Điều 122 Luật nhà ở 2014 không bắt buộc phải chứng thực, công chứng hợp đồng.

https://lh4.googleusercontent.com/OC7ipdXvRBfm6Ep660yNcbrOYH098An5gbYwbG6hpnSdGJHPfSe8-HryFGCx7mlf-p2K8ddHaXH_bSWzbNjHVd2lkwlteFfK4TEkADvFz2_6Px17MURf4Me-K0v1i0Cq99pBmH59A1Drt7nJPw

5. Thời điểm Bộ luật dân sự năm 2015 có hiệu lực kể từ ngày 01/01.2017

Theo bộ luật dân sự 2015 ra đời thay thế Bộ luật dân sự 20105 đã chính thức bãi bỏ điều khoản về việc bắt buộc chứng thực, công chứng đối với Hợp đồng thuê nhà ở. Vì vật, kể từ ngày 01.01.2017 thì căn cứ vào những quy định tại Luật nhà ở 2014, Bộ luật dân sự 2015 đối với hợp đồng thuê nhà ở hay thuê nhà với mục đích khác (Bao gồm thuê nhà ở làm văn phòng) không bắt buộc phải chứng thực, công chứng. Điều này đã được thống nhất cuối cùng trong các văn bản pháp luật có liên quan và đến nay vẫn không gây ra bất kỳ sự mâu thuẫn nào như trước thời điểm Bộ luậ dân sự 2015 có hiệu lực.

II. Hợp đồng thuê văn phòng với tổ chức có tư cách pháp nhân

Trường hợp thuê văn phòng từ các tổ chức có tư cách pháp nhân có chức năng cho thuê văn phòng thì Hợp đồng thuê văn phòng không cần phải chứng thực hay công chứng - Bởi vì cả bên cho thuê và bên thuê đều có tư cách pháp nhân đầy đủ, đáp ứng đầy đủ điều kiện xuất hóa đơn theo yêu cầu và chịu sự điều chỉnh của pháp luật có liên quan thông qua các hoạt động kinh doanh.

https://lh3.googleusercontent.com/YJH3kt9eHl1TZ7hZDPs7aFhCgkpG1U_wGUCGrhLPIvU--bUZuWRNbsBvEOx7zewztELjYn0SfIbPcwPKdlrHp3Sm8jD43cmq1LhZ93iHY4yk5w6o9k42HGOF2ArsYwwGq17O3ZGS9ifPlk7Yaw

Kết luận

Như vật căn cứ vào hệ thống pháp luật hiện hành tại Quy định về Hợp đồng thuê văn phòng ta có thể thấy:

- Trường hợp thuê nhà cá nhân làm văn phòng hay thuê văn phòng từ tổ chức có chức năng cho thuê văn phòng đều không bắt buộc phải chứng thức hay công chứng Hợp đồng thuê văn phòng.

Tuy nhiên với một số trường hợp thuê nhà cá nhân làm văn phòng thì chúng ta cũng cần công chứng nhằm đảm bảo tính pháp lý cũng như tính ràng buộc trách nhiệm của cả hai bên (Bên thuê và bên cho thuê) vì trên thực tế có rất nhiều sự cố không mong muốn xảy ra, như bên cho thuê không tuân thủ các điều khoản trong Hợp đồng, không hợp tác khi bên thuê có nhu cầu làm thủ tục liên quan đến giấy tờ, thuế...hay tự ý tăng tiền nhà vì không có người làm chứng thứ 3 trong hợp đồng...

Chúc quý khách tìm được văn phòng cho thuê như mong muốn và quy trình diễn ra suôn sẻ!